Đề Xuất 2/2023 # Bài Thuốc Bắc Trị Tàn Nhang Của Người Dân Tộc Thiểu Số # Top 6 Like | Ngayhoingauhungtocchackhoe.com

Đề Xuất 2/2023 # Bài Thuốc Bắc Trị Tàn Nhang Của Người Dân Tộc Thiểu Số # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài Thuốc Bắc Trị Tàn Nhang Của Người Dân Tộc Thiểu Số mới nhất trên website Ngayhoingauhungtocchackhoe.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ Năm, 15-12-2016

Bài thuốc bắc trị tàn nhang được các cô gái dân tộc thiểu số đặc biệt ở khu vực phía bắc luôn là một bí ẩn chưa được bật mí. Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao những cô gái ấy làm các công việc ngoài đồng nhưng lại có làn da mịn màng như vậy không ? Bí quyết chính là ở đây…

1.Bài thuốc thoa ngoài

– Nguyên liệu: 3 lạng hoa đào, 1,5 lạng hạt bí đao đã lột vỏ, 200ml mật ong rừng nguyên chất.

Hoa đào và hạt bí đao đem phơi vài nắng to cho thật khô rồi nghiền nát thành bột cho thật mịn.

Trộn đều bột hoa đào và bí đao với mật ong bạn được 1 hũ thuốc Bắc trị tàn nhang dùng được cho cả tháng.

Hàng ngày lấy thuốc bôi kín lên vùng da bị tàn nhang, mỗi ngày bôi thuốc 1 lần, sử dụng trong nhiều ngày liên tục để đạt kết quả tốt nhất.

– Công dụng: Làm mờ các hắc tố melamin dưới lớp biểu bì da, đánh bật các gốc tàn nhang, chống lão hóa và giúp da sáng đều màu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

2. Bài thuốc uống trong

– Nguyên liệu: Chuẩn bị các vị thuốc sâm quy, đương quy, tinh chất mầm đậu nành, diệp hạ châu, bìm bìm, phục linh, sài đất với tỷ lệ bằng nhau.

Các vị thuốc trên cho vào ấm sắc với nước cho đậm đặc thành cao lỏng, đợi cao thuốc nguội thì cất vào hũ đậy nắp kín lại bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh dùng dần.

Mỗi ngày lấy khoảng 2 thìa cao pha chung với 100ml nước ấm uống sau bữa ăn tối khoảng 20 phút.

– Công dụng: Bài thuốc Bắc trị nám da mặt từ bên trong này có tác dụng bổ máu, giải độc, nâng cao sức đề kháng cho cơ thể,chống oxy hóa các tế bào, ổn định nội tiết tố nữ, ngăn chặn sự hình thành của các hắc tố melamin dưới da, phá vỡ cấu trúc của các hắc sắc tố gây tàn nhang và đào thải chúng ra ngoài. Nhờ vậy mà tàn nhang sẽ được loại bỏ sạch và không còn mọc trở lại.

Để đạt hiệu quả trị tàn nhang tốt nhất bạn nên kết hợp đồng thời bài thuốc thoa ngoài và thuốc uống trong.

Trong quá trình dùng thuốc bạn nên tạm thời ngừng sử dụng các loại mỹ phẩm hoặc trang điểm.

Khi thoa thuốc da có thể bị kích ứng nhẹ và nổi sẩn đỏ, bạn không nên quá lo lắng bởi hiện tượng này do thuốc đang phát huy tác dụng tẩy chân tàn nhang. Da bị kích ứng nặng hay nhẹ tùy thuộc vào cơ địa của mỗi người, thông thường hiện tượng này chỉ xảy ra trong vòng 1 tuần đầu tiên dùng thuốc.

Tránh để da tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời khiến da bị bắt nắng trở lại.

Không bôi thuốc ở khu vực da gần mắt.

Kiên trì sử dụng thuốc cho tới khi chân tàn nhang bị loại bỏ sạch để đạt hiệu quả tốt nhất.

Các vị thuốc trong bài có thể thay đổi tùy theo tình trạng tàn nhang của mỗi người. Do vậy trước khi sử dụng thuốc bạn nên tham khảo ý kiến của các lương y để được sử dụng thuốc thích hợp.

Một Số Trận Quyết Chiến Chiến Lược Trong Lịch Sử Dân Tộc

VietnamDefence – “Đánh cho nó chích luân bất phản – Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn – Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” – Quang Trung Đại Đế.

MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN PHAN HUY LÊ, BÙI ĐĂNG DŨNG, PHAN ĐẠI DOÃN, PHẠM THỊ TÂM, TRẦN BÁ CHÍ

MỤC LỤC

Lời nhà xuất bản

Mở đầu

Chương I: Chiến thắng Như Nguyệt

Chương II: Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288

Chương III: Chiến thắng Tốt Động-Chúc Động

Chương IV: Chiến thắng Chi Lăng-Xương Giang

Chương V: Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút

Chương VI: Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa

Chương VII: Kết luận

Tài liệu tham khảo

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Đánh giặc giữ nước là một nội dung chủ yếu của lịch sử dân tộc Việt Nam. Thế kỷ nào, thời đại nào quân và dân ta cũng đều phải chống giặc ngoại xâm. Những chiến công hiển hách từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ đến chiến dịch Hồ Chí Minh sẽ để lại cho các thế hệ mai sau những bài học, những tấm gương ngời sáng về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về trí tuệ Việt Nam.

Cuốn sách MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC của các tác giả: Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí, được tái bản theo yêu cầu của một số đơn vị, cơ quan và những nhà nghiên cứu.

Ở cuốn sách này, tập thể tác giả đã cố gắng phục dựng lại sáu chiến thắng oanh liệt có ý nghĩa quyết định của quân và dân ta trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thời kỳ phong kiến độc lập. Đó là:

– Chiến thắng Như Nguyệt năm 1077. – Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. – Chiến thắng Tốt Động-Chúc Động năm 1426. – Chiến thắng Chi Lăng-Xương Giang năm 1427. – Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút năm 1785. – Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa năm 1789.

Trong bản in lần thứ ba này, trên cơ bản vẫn giữ như cũ, các tác giả chỉ sửa chữa những địa danh tỉnh, huyện cho phù hợp với thực tế hiện nay và bổ sung thêm tư liệu ở một số chỗ cần thiết.

Để nghiên cứu và biên soạn sáu chiến thắng được giới thiệu trong cuốn sách này, tập thể tác giả đã khai thác mọi nguồn tư liệu có thể sử dụng được. Vận dụng phương pháp kết hợp các tư liệu thành văn và tư liệu thực địa, các tác giả đã phân tích, khai thác, tận dụng mọi giá trị thông tin sử liệu, xác minh bổ sung cho nguồn sử liệu trong thư tịch. Đó là cơ sở tư liệu tổng hợp để nghiên cứu và biên soạn cuốn sách này nhằm dựng lại một số chiến công vĩ đại của tổ tiên thuở xưa. Qua đó giúp quân và dân ta nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc, góp phần vào việc tìm hiểu, kế thừa và phát huy những truyền thống, kinh nghiệm đánh giặc giữ nước hết sức phong phú, độc đáo, sáng tạo của dân tộc, thiết thực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới – đẩy mạnh công ngniệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN MỞ ĐẦU

Nhìn lại con đường lịch sử đã qua, trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải chiến đấu chống ngoại xâm gần như thường xuyên và đã chiến thắng ngoại xâm một cách oanh liệt. Đó là một nét nổi bật của lịch sử Việt Nam, là thử thách gay go nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn nhất của dân tộc ta.

Nước ta có tài nguyên phong phú, lại ở vào một vị trí địa lý quan trọng của vùng Đông-Nam Á. Nằm ở góc cực Đông Nam của đại lục châu Á, nước ta vừa nhìn ra Thái Bình Dương với bờ biển dài 3.260 ki-lô-mét, vừa nối liền với lục địa bằng những đường giao thông thủy bộ thuận lợi từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây. Với vị trí đó, nước ta là nơi gặp gỡ của nhiều nhóm cư dân trên đường thiên di, nơi giao lưu của nhiều luồng văn hóa phương Đông và cũng là địa bàn chiến lược mà nhiều thế lực xâm lược thèm khát, nhòm ngó.

Trong lịch sử, nhiều đế chế cường thịnh thời Cổ-Trung đại và nhiều cường quốc đế quốc thời Cận-Hiện đại đã âm mưu xâm chiếm nước ta. Kẻ thù muốn đánh chiếm nước ta không những để bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, khai thác những nguồn tài nguyên phong phú, mà còn biến nước ta thành một đầu cầu chiến lược để bành trướng khắp vùng Đông-Đông Á, để từ biển cả tiến sâu vào vùng đại lục bao la cũng như từ đất liền tỏa ra các vùng hải đảo. Chính vì vậy, kể từ khi dựng nước đến nay, trong suốt lịch sử lâu dài của mình, dân tộc ta phải luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và phải liên tiếp đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phần lớn là những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc cường bạo.

Vừa mới dựng nước thì nhân dân ta đã phải chiến đấu chống lại nhiều mối đe dọa từ bên ngoài xô tới. Nước Văn Lang trẻ tuổi đời Hùng Vương đã phải chống nhiều thứ “giặc” mà ký ức lâu đời của nhân dân còn ghi nhớ dưới dạng những truyền thuyết như giặc Man, giặc Xích tỷ (Mũi đỏ), giặc Thạch linh thần tướng… Nước ta cũng như cậu bé làng Phù Đổng sinh ra mới ba tuổi đã phải vụt lớn lên thành người khổng lồ để đánh giặc giữ nước. Câu chuyện Phù Đổng thiên vương đượm màu sắc thần thoại là một biểu tượng hào hùng về quyết tâm chống ngoại xâm và sức mạnh vùng dậy chiến thắng của toàn dân như nhà thơ Cao Bá Quát đã ngợi ca:

Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn, Đằng vân do hận cửu thiên đê. Phá giặc chỉ hiềm ba tuổi muộn, Lên mây còn giận chín trời thấp.

Cuối đời Hùng Vương sang đời An Dương Vương, nạn ngoại xâm càng trở thành mối đe dọa nguy hiểm đối với vận mạng của nước ta. Từ đây, giặc ngoại xâm không còn là những thứ giặc trong truyền thuyết nữa, mà đã hiện nguyên hình với tên gọi và xuất xứ cụ thể của nó, được ghi chép rõ ràng trong sử sách.

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của đế chế Tần vào cuối thế kỷ III trước công nguyên là cuộc chiến tranh chống ngoại xâm ác liệt, có quy mô lớn trong lịch sử. Sau hơn 10 năm chiến đấu bền bỉ, dũng cảm, mưu trí, nhân dân ta đã đánh bật quân giặc ra khỏi đất nước, ghi lại một chiến công hiển hách.

Chỉ tính toán sơ bộ, từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa kết thúc thắng lợi, trong khoảng hơn 22 thế kỷ, dân tộc ta đã tiến hành 13 cuộc chiến tranh giữ nước hết sức quyết liệt [1]. Trong 13 cuộc chiến tranh đó, dân tộc ta đã 10 lần chiến thắng oanh liệt giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, chỉ có 3 lần bị thất bại.

Trong số 13 cuộc chiến tranh trên chỉ có ba lần thất bại là cuộc kháng chiến chống Triệu đời An Dương Vương, chống Minh đời Hồ và chống Pháp đời Nguyễn.

Sau mỗi lần thất bại, đất nước tạm thời bị nước ngoài đô hộ, nhưng nhân dân ta lại vùng lên đấu tranh liên tục, mãnh liệt, quyết giành lại bằng được độc lập dân tộc. Trong ba quãng thời gian mất nước – thời Bắc thuộc, thời Minh thuộc, thời Pháp thuộc, nhân dân ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, trong đó có hàng chục cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô rộng lớn, đưa đến những thắng lợi tạm thời, cục bộ và cuối cùng là thắng lợi quyết định giải phóng hoàn toàn đất nước.

Trong khoảng hơn 22 thế kỷ mà ta phải tiến hành 13 cuộc chiến tranh giữ nước và hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, hàng chục cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô rộng lớn để giành lại độc lập dân tộc. Thời gian chống ngoại xâm lên đến khoảng 12 thế kỷ, chiếm hơn một nửa thời gian lịch sử (tính từ kháng chiến chống Tần vào thế kỷ III trước công nguyên đến ngày nay). Có thể nói, ít thấy một dân tộc nào trên thế giới phải chống ngoại xâm triền miên với thời gian kéo dài và số lượng các cuộc kháng chiến nhiều đến như thế.

Trong lịch sứ chống ngoại xâm lâu dài của dân tộc, chỉ có vài trường hợp, kẻ đi xâm lược so với ta không hơn kém bao nhiêu. Đó những lúc dân tộc ta chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện tương đối cân sức. Còn hầu hết trường hợp, cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc ta đều diễn ra trong hoàn cảnh so sánh lực lượng hết sức chênh lệch. Kẻ xâm lược là những quốc gia phong kiến lớn phương Đông. Những đế chế lớn thời Cổ-Trung đại, những cường quốc đế quốc chủ nghĩa thời Cận-Hiện đại có tiềm lực lớn hơn ta nhiều lần.

Do đó, “giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chế trường… ” (lời Trần Quốc Tuấn) hay “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” (lời Nguyễn Trãi) là điều kiện chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta, và cũng là một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam. Dân tộc ta không những phải chống ngoại xâm thường xuyên mà còn chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, ác liệt với so sánh lực lượng rất chênh lệch như vậy.

Chiến tranh là cuộc đọ sức một mất một còn, là sự thử thách quyết liệt nhất, toàn diện nhất sức sống của một dân tộc. Trong cuộc chiến đấu lâu dài vì Độc lập, Tự do của đất nước, dân tộc ta không phải không có lần bị thất bại, thậm chí có khi thất bại nặng nề, đau xót.

Trong số 13 cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc mà dân tộc ta đã trải qua, có 3 lần kháng chiến bị thất bại. Trong số hàng trăm cuộc khởi nghĩa để giành lại chủ quyền dân tộc có biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa dã bị kẻ thù đàn áp dã man, bị nhấn chìm trong biển máu.

Lịch sử Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm và làm sao tránh khỏi những lúc lầm than, tủi nhục. Con đường mà dân tộc ta đã đi qua đầy gian nan, nguy hiểm. Nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức, không để cho kẻ thù khuất phục, không để cho chông gai thử thách của lịch sử cản bước, dân tộc ta luôn luôn hướng về phía trước, vươn lên với ý chí kiên cường, sức sống phi thường và năng lực sáng tạo phong phú.

Thất bại chỉ là tạm thời và không bao giờ vì thất bại mà chùn chân, nản chí, dân tộc ta cuối cùng đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, kể cả những đế quốc cường thịnh bậc nhất của thời đại bấy giờ. Quyết tâm, ý chí và nghị lực của dân tộc thể hiện rõ rệt trong các cuộc chiến tranh yêu nước và sớm được đúc kết lại trong những lời tuyên bố đanh thép của các anh hùng dân tộc.

Thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt nói:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi khẳng định:

“Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc, Nam cũng khác, Mạnh yếu tuy có lúc kthác nhau, Nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu”.

Thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ kêu gọi:

“Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Và năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho cả dân tộc, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Kẻ thù đã thử thách sức sống của dân tộc ta một cách ghê gớm và lịch sử là bằng cứ hùng hồn chứng minh rằng “dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói. Bốn nghìn năm giữ nước của dân tộc ta là một thiên anh hùng ca rạng rỡ với biết bao chiến công oanh liệt chống ngoại xâm.

==***==

Riêng trong thời kỳ phong kiến độc lập, kể từ sau chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938 giành lại độc lập hoàn toàn cho đến trước cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mở đầu năm 1858, trong hơn 9 thế kỷ, dân tộc ta đã phải tiến hành 8 cuộc kháng chiến giữ nước.

Đó là các cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 981 và năm 1075-1077, chống Mông-Nguyên năm 1258, năm 1285 và năm 1287-1288, chống Minh năm 1406-1407, chống Xiêm năm 1784-1785, chống Thanh năm 1788-1789.

Trong 8 cuộc kháng chiến trên, dân tộc ta đã 7 lần giành thắng lợi vẻ vang, chỉ có 1 lần thất bại tạm thời. Nhưng ngay sau thất bại ấy – thất bại của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh dưới thời Hồ Quý Ly – dân tộc ta lại vùng lên khởi nghĩa liên tục và chỉ 20 năm sau (năm 1407-1427) đã quét sạch quân giặc ra khỏi đất nước bằng một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thắng lợi vang dội.

Kẻ thù của dân tộc ta vốn là những đế chế lớn, có nhiều tiềm lực kinh tế và quân sự, có quyết tâm xâm lược cao và ngoan cố. Do đó, nền độc lập dân tộc của ta chỉ thực sự giành và giữ được khi cuộc chiến tranh yêu nước đạt đến thắng lợi oanh liệt, đè bẹp hoàn toàn hoặc ít nhất, làm thất bại về cơ bản ý chí xâm lược của kẻ thù. Có như vậy, chúng mới chịu từ bỏ dã tâm xâm lược và không dám xâm phạm nước ta nữa.

Mức độ thắng lợi của quyết chiến chiến lược phản ánh thắng lợi chung của toàn bộ cuộc chiến tranh và là cơ sớ có ý nghĩa quyết định để kết thúc chiến tranh bằng những biện pháp chính trị, ngoại giao khéo léo và mềm dẻo, bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Sau khi mới giành lại được độc lập, hai lần xâm lược của quân Tống vào cuối thế kỷ X và XI là những thử thách nguy hiểm đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất vào mùa xuân năm 981, quân dân ta do Lê Hoàn lãnh đạo đã tách rời và đánh bại cả hai đạo quân thủy bộ của địch Ở Bạch Đằng và Chi Lăng [2]. Cuộc kháng chiến đã giành được thắng lợi, nhưng chỉ mới đẩy lùi chứ chưa thủ tiêu được nguy cơ xâm lược của nhà Tống.

Giữa thế kỷ XI, nhà Tống lại ráo riết chuẩn bị mở cuộc xâm lược lần thứ hai với quy mô lớn hơn, âm mưu thâm độc hơn. Lý Thường Kiệt đã tổ chức và lãnh đạo một cuộc kháng chiến chống xâm lăng rất chủ động và tích cực, phản ánh một bước lớn mạnh về mọi mặt và tư thế hiên ngang của dân tộc ta. Với chiến thắng Như Nguyệt vào mùa xuân năm 1077, quân dân ta đã đập tan cuộc viễn chinh của quân Tống, đè bẹp ý chí xâm lược của nhà Tống. Trên cơ sở đó, Lý Thường Kiệt chủ động đứng ra giảng hòa nhằm mở ra một lối thoát cho nhà Tống. Sau thất bại nặng nề này, nhà Tống phải công nhận nước ta là một vương quốc độc lập và không dám đụng chạm đến nước Đại Việt nữa.

Vào thế kỷ XIII, quân xâm lược của đế quốc Mông-Nguyên tung hoành khắp Á, Âu, đánh đâu thắng đó, thế mà ba lần xâm lược nước ta đều bị thất bại thảm hại. Mỗi cuộc kháng chiến lại kết thúc bằng những trận quyết chiến chiến lược nổi tiếng làm rạng rỡ non sông đất nước.

Kháng chiến lần thứ nhất (năm 1258) có chiến thắng Đông Bộ Đầu. Kháng chiến lần thứ hai (năm 1285) có chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp. Kháng chiến lần thứ ba (năm 1287-1288) có chiến thắng Bạch Đằng: quân dân ta, dưới sự chỉ huy của nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn, đã chôn vùi hoàn toàn một đạo quân thủy của địch. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 không những đánh dấu thắng lợi rất oanh liệt của cuộc kháng chiến lần thứ ba mà còn cùng với những chiến thắng khác đưa đến sự chấm dứt nạn xâm lược của đế quốc Mông-Nguyên đối với nước ta. Đó là một chiến công huy hoàng trong thắng lợi vĩ đại của ba lần kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ XIII, bảo đảm cho dân tộc ta giữ vững được nền độc lập, tồn tại sát bên cạnh một đế quốc cường bạo bậc nhất trên thế giới đương thời đang nuôi tham vọng làm bá chủ thế giới và bành trướng xuống vùng Đông-Nam châu Á.

Bạch Đằng, Như Nguyệt, Tốt Động- Chúc Động, Chi Lăng-Xương Giang, Rạch Gầm-Xoài Mút, Ngọc Hồi-Đống Đa (Khương Thượng) vốn là những tên đất bình thường – tên sông, tên núi, tên xóm làng nhưng đã được ghi đậm nét vào lịch sử dân tộc và khắc sâu vào tâm trí của người Việt Nam bởi đó cũng là tên những chiến công bất diệt tiêu biểu cho thắng lợi hiển hách của dân tộc ta trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ XI đến XVIII.

Lịch sử chống ngoại xâm vừa thử thách, vừa tôi luyện dân tộc ta. Những cuộc chiến tranh yêu nước đã tạo nên cho dân tộc ta một bản lĩnh kiên cường, một sức sống bền bỉ, mãnh liệt, đã hun đúc nên nhiều truyền thống tốt đẹp tiêu biểu là: lòng yêu nước tha thiết, ý chí độc lập tự chủ mạnh mẽ, tinh thần đoàn kết keo sơn, chí quật cường bất khuất, trí thông minh sáng tạo. Là một dân tộc đã nhiều lần quằn quại tủi nhục trong cảnh nước mất nhà tan, đã chiến đấu không biết mệt mỏi với vô vàn hy sinh gian khổ để giành và giữ nền Độc lập, Tự do của Tổ quốc, dân tộc ta hiểu rõ và thấm sâu giá trị thiêng liêng của Độc lập, Tự do. Vì thế “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” sớm trở thành lẽ sống cao cả, tư tưởng và tình cảm lớn nhất của dân tộc ta.

Lịch sử chống ngoại xâm còn để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá. Đó là kinh nghiệm và truyền thống đánh giặc dũng cảm và mưu trí, phong phú và độc đáo của tổ tiên ta. Trên cơ sở kinh nghiệm ấy, các nhà quân sự thiên tài của dân tộc trước đây, như Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Trãi đã từng đúc kết, viết nên những tác phẩm có ý nghĩa lý luận quân sự dầu tiên, đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của khoa học quân sự Việt Nam rất ưu việt, độc đáo. Hệ thống tri thức quân sự đó bao gồm nghệ thuật tiến hành chiến tranh giữ nước và nghệ thuật tiến hành khởi nghĩa tiến lên chiến tranh giải phóng trong điều kiện “lấy đoản chế trường”; “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” và dựa trên cơ sở “cả nước chung sức”, “toàn dân là binh”.

Những trận quyết chiến chiến lược biểu hiện tập trung và điển hình nhất sức mạnh vật chất tinh thần, những phẩm giá cao quý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam; chứng tỏ rõ rệt vai trò quyết định của nhân dân và tác dụng to lớn của nhân tố tinh thần trong chiến tranh yêu nước. Đó cũng là những mẫu mực về tài thao lược, về truyền thống quân sự lâu đời của dân tộc ta.

Ngày nay, những truyền thống thao lược nói trên đã được Đảng ta kế thừa và phát triển một cách trân trọng và sáng tạo trong cuộc đấu tranh giành Độc lập Tự do của dân tộc. Sự kế thừa và phát triển dó đã thực sự góp phần làm cho đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam ta trở nên hết sức tài tình, độc đáo.

[1] Theo chúng tôi, đó là những cuộc chiến tranh sau đây.

1. Chống Tần (thế kỷ III trước công nguyên). 2. Chống Triệu (thế kỷ II trước công nguyên). 3. Chống Tống lần thứ nhất (năm 981). 4. Chống Tống lần thứ hai (năm 1075-1077). 5. Chống Mông-Nguyên lần thứ nhất (năm 1258). 6. Chống Mông-Nguyên lần thứ hai (năm 1285). 7. Chống Mông-Nguyên lần thứ ba (năm 1287-1288). 8. Chống Minh (năm 1406-1407). 9. Chống Xiêm (năm 1784-1785). 10. Chống Thanh (năm 1788-1789). 11. Chống Pháp (năm 1858-1884) . 12. Chống Pháp và can thiệp Mỹ (năm 1946-1954). 13. Chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

[2] Vào đầu thập kỷ 70 (1970), do điều kiện tư liệu còn hạn chế, chúng tôi chưa biên soạn “Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và năm 981”. Trong công trình này, không có chương về hai chiến thắng trên. Nếu cần tìm hiểu, xin bạn đọc tham khảo sách “Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288”, xuất bản năm 1988, của Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc và sách “Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (980-981)”, xuất bản năm 1992, của Trần Bá Chí.

Mách Bạn 3 Bài Thuốc Trị Nám Tàn Nhang Hay Từ Dân Gian

cach dieu tri nam

trị nám da từ thiên nhiên

Bài 1: Thuốc trị nám tàn nhang bằng hạt sen

Hạt sen vốn là một vị thuốc khá quen thuộc, hạt sen còn được sử dụng làm thực phẩm cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể, tăng cường tuần hoàn máu, điều tiết tuyến nội tiết. Hạt sen kết hợp với long nhãn và ý dĩ làm thành bài thuốc trị nám tàn nhang hiệu quả.

Cách làm: Bạn dùng 300gr hạt sen, 50g ý dĩ, 80g long nhãn.

Bạn cho tất cả vào nồi rồi áp suất. Đun khoảng 15 phút cho thật nhừ. Bạn múc ra bát cho nguội rồi thêm một chút mật ong, ăn hàng ngày.

Bạn nên sử dụng 2 lần/tuần để cải thiện làn da bị nám, tàn nhang, tăng cường tuần hoàn máu, cho làn da hồng hào, tươi sáng.

Bài 2: Cao bí đao trị nám tàn nhang

Bí đao (hay còn gọi là bí xanh) là loại quả giầu Vitamin E , có tác dụng làm đẹp da ngăn ngừa nám da, tàn nhang hiệu quả.

Bài thuốc trị nám tàn nhang từ cao bí đao thực hiện rất đơn giản:

Bạn có thể tự nấu cao bí đao để sử dụng, song cách nhanh nhất là bạn có thể mua cao bí đao bán sắn trên thị trường.

Sau khi rửa mặt bằng nước sạch, bạn xoa một lớp mỏng cao bí đao lên vùng da cần chăm sóc chữa trị. Bạn tiến hành massage trong khoảng 5 phút rồi để thêm 20 phút. Sau đó rửa sạch mặt lại bằng nước ấm.

Bí đao rất lành nên thích hợp với mọi loại da. Bạn nên sử dụng cách này thường xuyên để cho hiệu quả tốt.

Đậu xanh chứa protein, tinh bột, chất béo và chất xơ, vitamin E, B1, B2, B3, B6, C, tiền vitamin A, vitamin K, acid folic và các khoáng chất gồm Ca, Mg, K, Na, Zn, Fe, Cu…có tác dụng làm đẹp da và trị nám, tàn nhang rất tốt.

Cách thực hiện: Đậu xanh luộc, nghiền nhuyễn và cho thêm một ít nước tạo thành một hỗn hợp đắp lên vùng da bị nám tàn nhang. Sau khi hỗn hợp bắt đầu khô thì rửa sạch mặt với nước ấm, nên đắp vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Bài Thuốc Đông Y Trị Nám Tàn Nhang Hiệu Quả, An Toàn Với Người Việt

Nám da là bệnh lý xuất phát từ nhiều nguyên nhân như yếu tố môi trường, thời tiết, thói quen sinh hoạt không tốt, sự rối loạn bài tiết dưới da, do sự di truyền,… Có nhiều phương pháp được đưa ra để giúp người bệnh loại bỏ tình trạng da liễu này, tuy nhiên nếu chỉ điều trị từ bên ngoài thì nám tàn nhang sẽ khó mà khỏi được.

Vậy trị nám tàn nhang bằng thuốc Đông y có tốt không? Theo Y học Cổ truyền, việc điều trị bệnh thường theo cơ chế là loại bỏ các nguyên nhân gây bệnh từ sâu bên trong cơ thể, từ đó thuốc Đông y giúp cân bằng nội tiết, cải thiện chức năng đào thải độc tố của da, thải độc và ức chế sự hình thành của các hắc sắc tố melanin.

Bên cạnh đó, thuốc Đông y còn có tác dụng kích thích sản sinh sắc tố giúp sáng da, cung cấp cho da các yếu tố có lợi, tăng cường sức đề kháng giúp da luôn chắc khỏe. Do đó, sử dụng các bài thuốc Đông y trị bệnh là một giải pháp mà người bệnh có thể cân nhắc và lựa chọn.

Top 7 bài thuốc Đông y trị nám tàn nhang hiệu quả người bệnh nên biết

1. Bài thuốc số 1

Thành phần: Đinh lăng (hoặc đẳng sâm) 16g, đậu ván 12g, nhân trần, ngải cứu, hương phụ, lạc tiên mỗi loại 10g, cam thảo nam, rễ chanh mỗi loại 8g, trần bì 6g.

Cách dùng: Đem tất cả các vị thuốc cho vào nồi sắc cùng với nước sạch. Đun sôi, để nhỏ lửa cho đến khi chỉ còn khoảng 200ml nước thì tắt bếp. Chia phần thuốc này làm 2 phần bằng nhau và chia ra làm 2 lần uống mỗi ngày, lưu ý uống trước bữa ăn để có được hiệu quả tốt nhất.

Đây là bài thuốc Đông y trị nám tàn nhang phù hợp cho những người bị bệnh do khí hư kèm theo các triệu chứng như rối loạn kinh nguyệt, nước tiểu trong, lạnh cơ thể, lưỡi nhạt màu và có rêu trắng, cơ thể mệt mỏi không có sức, đại tiện phân mềm, nhão.

2. Bài thuốc Đông y trị nám tàn nhang số 2

Thành phần: Thục địa 20g, hoài sơn đã sao vàng 16g, táo nhục, thiên hoa phấn, mẫu đơn bì, câu kỷ tử mỗi loại 12g, bạch phục linh, trạch tả, gừng tươi, hạn khô thảo, cúc hoa mỗi loại 8g.

Cách dùng: Đem các vị thuốc cho vào ấm, đổ thêm khoảng 600ml nước vào và đun sôi với lửa nhỏ. Đun cho đến khi chỉ còn lại khoảng 150ml nước thì dừng lại. Sắc hai lần lấy 2 nước rồi pha hai nước thuốc lại với nhau. Sử dụng thuốc uống 2 lần trong ngày và lưu ý uống sau bữa ăn khoảng 2 tiếng. Uống liên tục 10 – 15 thang, sau đó nghỉ 7 ngày và lại uống tiếp cho đến khi tình trạng nám tàn nhang thuyên giảm.

3. Bài thuốc trị nám số 3

Thành phần: Hà thủ ô 16 (hoặc đương quy 12g), lạc tiên, rau má mỗi loại 12g, hương phụ, đậu đen, ngải cứu mỗi loại 10g, cam thảo nam, mã đề, lá dâu mỗi loại 8g.

Cách dùng: Các vị thuốc đổ chung vào một ấm rồi đổ thêm nước vào đun sôi. Khi sôi, vặn lửa nhỏ và tiếp tục đun cho đến khi chỉ còn lại khoảng 200ml thì dừng lại. Đem số thuốc này chia ra làm 2 phần bằng nhau, uống làm 2 lần trong ngày trước bữa ăn.

Đây là bài thuốc Đông trị nám tàn nhang dành cho người bị bệnh do huyết hư kèm theo các triệu chứng như da khô, thường xuyên bị hoa mắt, chóng mặt, sắc mặt vàng, người gầy yếu và bứt rứt khó chịu, táo bón, nước tiểu vàng và nóng rát, ra mồ hôi trộm, hay bị mất ngủ, lưỡi nhạt và có rêu vàng.

4. Bài thuốc Đông trị nám da và tàn nhang số 4

Thành phần: Hà thủ ô đỏ 16g, lạc tiên 12, đậu ván, cúc tần, ngải cứu, nhân trần, hương phụ mỗi loại 10g, mã đề, cỏ mần trầu, bạc hà mỗi loại 8g, cam thảo nam 6g và gừng nướng 4g.

Cách dùng: Đem tất cả các vị thuốc cho vào ấm đun sôi cùng với nước, đun cho đến khi chỉ còn khoảng 200ml nước thì tắt bếp. Cho phần thuốc ấy làm 2 phần bằng nhau, uống làm 2 lần trước các bữa ăn. Duy trì đều đặn một liệu trình khoảng 10 ngày sẽ thấy tình trạng nám da, tàn nhang thuyên giảm.

Đây là bài thuốc Đông y trị nám tàn nhang hiệu quả cho những người bị nám do can khí uất kèm theo các triệu chứng như đau tức ngực, tinh thần mệt mỏi không thư thái, hông sườn đau tức, rối loạn kinh nguyệt, vùng bụng dưới và vú bị đau.

5. Bài thuốc trị nám da và tàn nhang số 5

Thành phần: Tang ký sinh, ích mẫu thảo mỗi loại 30g, 4 quả trứng gà và một lượng đường phèn vừa đủ. Đây là bài thuốc giúp bổ huyết, hoạt huyết , dưỡng huyết trị nám tàn nhang và ngăn ngừa mụn trứng cá.

Cách dùng: Trứng gà đem luộc chín rồi bóc vỏ, sau đó cho vào nồi nấu cùng tang ký sinh và ích mẫu. Đổ nước vào vừa đủ và đun sôi với lửa nhỏ trong khoảng 30 phút rồi cho thêm đường phèn và khuấy cho tan đều. Tiếp theo bạn vớt bỏ vỏ của tang ký sinh và ích mẫu. Uống nước thuốc và ăn trứng một lần mỗi ngày, liên tục trong 10 ngày sẽ thấy tình trạng nám da thuyên giảm.

6. Bài thuốc Đông y trị nám tàn nhang số 6

Thành phần: Bạch phục linh, a giao, bạch thược (sao rượu), sinh địa, đương quy mỗi loại 12g, xuyên khung (sao rượu), huỳnh kỳ, quảng bì (sao thơm), bắc sài hồ, thăng ma, gừng sống mỗi loại 8g, chích thảo 6g.

Cách dùng: Cho các vị thuốc vào nồi cùng khoảng 600ml nước sau đó đun sôi cùng với lửa nhỏ cho đến khi chỉ còn khoảng 150ml nước thì tắt bếp. Sắc làm hai lần rồi lấy nước thuốc của hai lần trộn với nhau, chia đều ra làm 2 làn dùng trong ngày. Lưu ý dùng sau bữa ăn 2 tiếng để có được hiệu quả trị nám, tàn nhang tốt nhất.

Cải khắc phục những nhược điểm này, hiện nay trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm Đông y được bào chế theo công nghệ hiện đại không chỉ dễ dàng sử dụng mà còn đảm bảo hiệu quả gấp nhiều lần, tiêu biểu phải kể tới bộ Vương Phi của Trung tâm Da liễu Đông y Việt Nam.

7. Trị nám tàn nhang với Bộ sản phẩm Vương Phi

BSP Nám da tàn nhang Vương Phi được bào chế dựa trên bài thuốc bí truyền của ngự y Trần Kim Thu kết hợp với công nghệ tiên tiến. Bộ sản phẩm hoạt động theo nguyên lý của y học cổ truyền giúp cân bằng nội tiết đồng thời chăm sóc, dưỡng da từ bên ngoài để gia tăng hiệu quả.

Bộ sản phẩm Vương Phi là sự kết hợp hoàn hảo giữa nhiều loại thảo dược giúp hỗ trợ điều trị thâm nám trên da hiệu quả. Mỗi loại thảo dược lại đem đến công dụng trị nám tàn nhang độc đáo.

Các thảo dược sau khi thu hái đều được làm sạch và đưa vào nhà máy. Sau đó, nguyên liệu sẽ được thực hiện theo quy trình khép kín nhằm giữ nguyên vẹn tinh túy của dược liệu. Đặc biệt, vườn thảo dược đạt tiêu chuẩn GACP-WHO đều được gieo trồng khắp cả nước nhằm tránh tình trạng thiếu hay nguyên liệu không đảm bảo chất lượng. Đây là một trong những điểm khác biệt chỉ có ở Trung tâm Da liễu Đông y Việt Nam.

Bộ sản phẩm Vương Phi gồm 2 chế phẩm chính là Viên nám và Tinh chất bôi ngoài. Mỗi chế phẩm đều mang công dụng riêng biệt, khi kết hợp với nhau sẽ tối ưu hiệu quả trị nám tàn nhang.

Các tinh chất có trong viên uống sẽ nhanh chóng đi sâu vào căn nguyên gây nám tàn nhang, phá vỡ các gốc hắc sắc tố Melanin từ đó cân bằng nội tiết, lưu thông khí huyết, loại bỏ độc tố. Tinh chất bôi sẽ trực tiếp dưỡng da từ bên ngoài bằng cách loại bỏ tế bào chết, cung cấp độ ẩm, se khít lỗ chân lông giúp da sáng mịn, đều màu.

Đặc biệt, khác với sản phẩm thông thường, liệu trình điều trị của Vương Phi rõ ràng từ 2 – 4 tháng, tùy theo cơ địa, mức độ nghiêm trọng ở từng người. (24h.com là trang báo uy tín cũng đã đưa thông tin về Vương Phi, chi tiết bài báo )

Vương Phi được xem là vị cứu tinh sắc đẹp của chị em phụ nữ Việt, trong đó phải kể đến diễn viên Thu Trang. Được biết đến là gương mặt quen thuộc của màn ảnh Việt, Thu Trang ghi dấu với các vai diễn trong bộ phim Những cô gái trong thành phố, Mùa xuân ở lại,… Sau 30 tuổi, nội tiết tố thay đổi cùng với tần suất làm việc dưới nắng cao, làn da cô xuất hiện những đốm nám tàn nhang, làn da chảy xệ và lão hóa.

Dù đã thử rất nhiều phương pháp như bôi kem đặc trị nám, đắp mặt nạ hay bắn laser thì tình trạng da của nữ diễn viên không được cải thiện. Chính vì vậy, sau khi được giới thiệu BSP Vương Phi, nữ diễn viên đã thực hiện theo đúng lộ trình mà bác sĩ đã giao.

Sau 3 tháng sử dụng Vương Phi, diễn viên Lương Thu Trang đã có sự lột xác về ngoại hình. Các vết nám, tàn nhang đã không còn nữa, làn da căng bóng, mịn màng và tràn đầy sức sống. Đặc biệt, trong chương trình Cơ thể bạn nói gì phát sóng trên VTV2, nữ diễn viên đã có những trải lòng về nám tàn nhang cũng như hành trình tìm lại làn da mịn màng, đều màu: ” Sau 3 tháng sử dụng Bộ sản phẩm trị nám tàn nhang Vương Phi, mình cảm thấy rất hài lòng về làn da của mình hiện tại. Những vết chân nám tàn nhang mờ đi trông thấy, làn da căng bóng hơn, mịn màng hơn, căng bóng hơn, trẻ hóa hơn”.

Đánh giá của chuyên gia về bộ Vương Phi trị nám tàn nhang

Ths. Bs CK II Nguyễn Thị Vân Anh – Nguyên Trưởng khoa Nội, bệnh viện YHCT TW nhận định: “Bộ sản phẩm Vương Phi là một phương pháp trị nám da, tàn nhang mà tôi đánh giá cao. Bởi lẽ, sản phẩm này đi sâu vào điều trị bệnh tận gốc đồng thời bảo vệ da khỏi các yếu tố có hại bên ngoài, giúp da luôn khỏe mạnh. Hơn nữa, Vương Phi cũng được bào chế sử dụng cho nhiều loại da và các mức độ bệnh lý khác nhau, thành phần thảo dược 100% nên có thể giúp điều trị nám, tàn nhang hiệu quả và an toàn cho sức khỏe”.

Hành trình chữa khỏi Nám tàn nhang của DV Lương Thu Trang tại Trung tâm Da liễu Đông y Việt Nam

Những lưu ý khi sử dụng các bài thuốc Đông y trị nám tàn nhang

Lựa chọn các nhà thuốc Đông y uy tín để khám chữa và mua thuốc.

Mua thuốc có nguồn gốc rõ ràng, không sử dụng thuốc đã bị mốc hoặc thuốc kém chất lượng.

Bảo quản thuốc trong môi trường phù hợp để tránh thuốc bị mốc.

Có chế độ ăn uống kiêng khem thích hợp trong quá trình điều trị.

Chăm sóc da đúng cách, sạch sẽ mỗi ngày với các sản phẩm phù hợp.

Hạn chế sử dụng mỹ phẩm không rõ nguồn gốc, sản phẩm có chất tẩy rửa mạnh gây hại cho da.

Cần bảo vệ da với kem chống nắng và quần áo, mũ bảo hộ mỗi khi ra ngoài để bảo vệ da khỏi các yếu tố có hại như ánh nắng, khói bụi,…

Xây dựng chế độ ăn uống đủ chất với những thực phẩm tốt cho sức khỏe.

Có chế độ sinh hoạt khoa học, ngủ đủ giấc, duy trì tâm lý vui vẻ, thoải mái, không sử dụng bia, rượu hoặc các sản phẩm chứa chất kích thích có hại.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài Thuốc Bắc Trị Tàn Nhang Của Người Dân Tộc Thiểu Số trên website Ngayhoingauhungtocchackhoe.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!